DỰ ÁN NHÀ MÁY SẢN XUẤT BỘT GIẤY

DỰ ÁN NHÀ MÁY SẢN XUẤT BỘT GIẤY

Công ty IPM chúng tôi là tổ chức tư vấn chuyên nghiệp, cung cấp các dịch vụ liên quan đến lập dự án đầu tư, thẩm tra dự án đầu tư, nghiên cứu, phân tích thị trường. Hãy liên hệ ngay với chúng tôi để được tư vấn. Hotline: 0915778389

GIỚI THIỆU DỰ ÁN

Sự cần thiết đầu tư

Theo số liệu thống kê sơ bộ từ TCHQ, kim ngạch xuất khẩu giấy của Việt Nam trong tháng 9/2018 đạt 70,4 triệu USD, tính chung từ đầu năm đến hết tháng 9/2018 đã xuất khẩu 750 triệu USD giấy và các sản phẩm từ giấy, tăng 48,4% so với cùng kỳ năm 2017.

Với khoảng cách vị trí địa lý không xa với Việt Nam Trung Quốc là thị trường xuất khẩu chủ lực giấy và sản phẩm của Việt Nam, chiếm 26,3% tỷ trọng đạt 197,4 triệu USD tăng gấp 4,9 lần (tức tăng 391,43%) – đây cũng là thị trường có tốc độ tăng vượt trội. Riêng tháng 9/2018 đạt 13,5 triệu USD giảm 40,78% so với tháng 8/2018 và giảm 24,3% so với tháng 9/2017.

Đứng thứ hai là thị trường đạt 84,7 triệu USD, tăng 19,14% so với cùng kỳ, riêng tháng 9/2018 đạt 7,5 triệu USD, tăng 17,89% so với tháng 8 và tăng 37,2% so với tháng 9/2017.

Kế đến là các thị trường Nhật Bản, Campuchia, Malaysia, Indonesia, Singapore… Nhìn chung, 9 tháng đầu năm nay kim ngạch xuất khẩu giấy và sản phẩm từ giấy sang các thị trường đều có tốc độ tăng trưởng chiếm 82,3%, ngoài thị trường Trung Quốc có mức tăng đột biến, thì xuất sang thị trường Philippines cũng có tốc độ tăng mạnh, tuy chỉ đạt 20,2 triệu USD, nhưng tăng gấp 2,3 lần (tức tăng 134,76%) so với cùng kỳ 2017. Ngoài ra, xuất sang Hàn Quốc cũng tăng trưởng khá trên 83% đạt 17,2 triệu USD, riêng tháng 9/2018 chỉ đạt 2,1 triệu USD giảm 7,02% so với tháng 8/2018 và tăng 8,83% so với tháng 9/2017.

Đối với bột giấy, tính từ thời điểm Trung Quốc cấm sử dụng giấy phế liệu hỗn hợp tới nay, giá bột giấy tẩy trắng trên thị trường thế giới đã tăng 40%. Phần lớn các nhà sản xuất bột gỗ chủ chốt như Indonesia, Malaysia và Chile đều nâng giá bán bột giấy sang thị trường Trung Quốc. Giá bột giấy của Mỹ đã tăng hơn 35% trong năm 2017; chỉ trong vòng 6 tháng (tháng 9/2017 – tháng 2/2018), giá bột giấy tăng khoảng 240 USD/tấn (khoảng 20%), lên khoảng 700- 860 USD/tấn.

Tại Đài Loan (Trung Quốc) đã xảy ra khủng hoảng giấy vệ sinh khi các siêu thị đồng loạt nâng giá thêm 10 – 30% kể từ tháng 3 bởi nguyên liệu tăng giá.

Tại Ấn Độ, giá giấy in và giấy viết tăng khá nhanh trong tài khóa 2018, đạt 65.000 – 68.000 Rupee/tấn vào cuối quý 1/2018 và tiếp tục tăng thêm 2-3% trong tài khóa 2019 (bắt đầu từ tháng 4/2018) do chi phí nguyên liệu tăng.

Tại Việt Nam, giá giấy nguyên liệu tăng ngay từ quý đầu năm cho đến nay. Cụ thể, tháng 6/2018 giá tăng ở hầu hết các chủng loại. Trước đó tháng 5/2018 giấy sản xuất tập định lượng 58 gsm có giá 24 triệu đồng/tấn, thì nay đã tăng thêm 800.000 – 1 triệu đồng/tấn. So với cuối tháng 3/2018, giá giấy in tập này đã tăng thêm 15% và tăng tổng cộng xấp xỉ 30% kể từ đầu năm đến nay.

Đối với giấy in báo giá tăng rất mạnh. Ngay từ cuối tháng 2/2018 giá bình quân đã đứng ở mức cao 2.2 triệu đồng/tấn và nay tiếp tục tăng thêm 15-20% cho các lô hàng giao vào cuối tháng 8 tới.

Đặc biệt, giấy làm bao bì và giấy bao bì tăng kể từ quý 1/2017, các thương lái Trung Quốc sang thu mua với mức giá cao hơn giá bán trong nước 1.5 – 2 triệu đồng/tấn, dao động 11.5 – 13 triệu đồng/tấn tùy loại, thậm chí họ còn muốn ký hợp đồng dài hạn và đề nghị được trả tiền trước để đưa giấy về nước. Và cho đến nay giá vẫn chưa có dấu hiệu hạ nhiệt.

Bên cạnh các nguồn nhiên liệu như than, điện, nước, hóa chất, xăng dầu, chi phí vận chuyển… lần lượt được điều chỉnh tăng cao. Hiện nay, các doanh nghiệp trong ngành giấy cũng đang phải đối mặt với giá nguyên liệu giấy tăng mạnh. Để đối phó với thực trạng này, các ngành sản xuất sử dụng nguồn nguyên liệu giấy buộc phải tăng giá sản phẩm và tìm mọi cách để duy trì sản lượng đầu ra và bình ổn giá.

Hiện nay, nguồn nguyên liệu giấy sản xuất trong nước phụ thuộc lớn vào nguồn nhập khẩu, chiếm gần 2/3. Số còn lại, các doanh nghiệp tự sản xuất. Tuy nhiên, do nhập khẩu khoảng 50% nguyên liệu cho việc tự sản xuất này nên sản xuất giấy trong nước ngày càng khó khăn. Theo dự đoán của các ngành hữu quan, đây là một trong những nguyên nhân góp phần tiếp tục đẩy giá giấy tăng cao trong thời gian tới.

Hiện đang bước vào mùa kinh doanh cao điểm nên các doanh nghiệp ngành giấy không thể giảm năng suất sản xuất. Hầu hết các doanh nghiệp đều khẳng định, nếu giá nguyên liệu giấy vẫn tiếp tục căng thẳng thì việc tiếp tục điều chỉnh giá sản phẩm từ giấy tăng trong thời gian tới là khó thể tránh khỏi dù doanh nghiệp luôn nêu cao tinh thần tiết kiệm chi phí sản xuất, chấp nhận giảm lợi nhuận.

Đứng trước tình hình căng thẳng của thị trường giấy và bột giấy như hiện nay thì việc xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy là cần thiết. Do đó, chủ đầu tư phối hợp với đơn vị tư vấn là Công ty IPM chúng tôi để tiến hành nghiên cứu, lập dự án “Đầu tư xây dựng Nhà máy sản xuất bột giấy” trình các cơ quan, ban ngành có liên quan, xin chủ trương đầu tư dự án.

Mục tiêu đầu tư:

Hình thành trung tâm sản xuất bột giấy tại tỉnh Quảng Nam.

Khai thác nguồn nguyên liệu tập trung sẵn có tại địa phương và vùng lân cận.

Tạo đòn bẩy để đẩy mạnh trồng rừng nguyên liệu giấy.

Góp phần phát triển kinh tế địa bàn tỉnh Quảng Nam và khu vực lân cận;

Góp phần thực hiện kế hoạch đề ra của toàn ngành giấy đến năm 2025.

Tạo công ăn việc làm tăng thu nhập cho người dân tại địa phương.

Cung cấp các sản phẩm từ gỗ cho thị trường trong và ngoài tỉnh.

Giải quyết công ăn làm việc và thu nhập ổn định cho cán bộ công nhân viên Công ty và người dân địa phương, đưa Công ty phát triển theo hướng bền vững

Đầu tư xây dựng dự án sẽ đóng góp một phần nhỏ vào an sinh phúc lợi  cho xã hội nói chung và tỉnh Quảng Nam nói riêng.

Ngành chế biến gỗ góp phần thúc đẩy nền kinh tế phát triển, là một trong những ngành đem lại giá trị kim ngạch xuất khẩu cao của cả nước, keó theo sự phát triển của các ngành công nghiệp phụ trợ.

Tận dụng tối đa nguồn nguyên liệu nông – lâm sản trong khu vực tỉnh và vùng lân cận.

Đạt được mục tiêu tạo lợi nhuận và thu hút ngoại tệ, góp phần thực hiện mục tiêu kế hoạch kinh tế -xã hội của tỉnh Quảng Nam.

VỊ TRÍ QUY MÔ VÀ SẢN PHẨM CỦA DỰ ÁN

Vị trí

Đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy được đặt tại huyện Quế Thọ tỉnh Quảng Nam. Để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của thị trường giấy trong nước và nhằm giải quyết lượng nguyên liệu đầu vào chưa được khai thác đầu tư đúng mức. Như chúng ta đã biết các vùng lân cận huyện Quế Thọ như: Nông Sơn, Duy Xuyên, Bắc Trà My, Thăng Bình, Đại Lộc…có trồng rất nhiều cây Keo và cây lá tràm. Để khác thác tất cả các thuận lợi của vị trí khu đất cũng như các tiện ích và mang lại giá trị kinh doanh, thương hiệu công ty chúng tôi quyết định đầu tư xây dựng nhà máy vào địa điểm nói trên để khai thác triệt để tìm năng và những thuận lợi vốn có.

Quy mô dự án

Quy mô

Tổng diện tích xây dựng: 2ha

Dự án Đầu tư Xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy có công suất 40 tấn/ngày.

Với tổng diện tích như trên cùng với sự tính toán và năng lực tài chính chủ đầu tư đã đầu tư vào các hạng mục như sau:

Tổng mức đầu tư

Tổng mức đầu tư dự án Đầu tư Xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy là 11,488,894,000 đồng bao gồm: Chi phí xây dựng và lắp đặt, Chi phí vật tư thiết bị; Chi phí tư vấn, Chi phí quản lý dự án & chi phí khác, dự phòng phí 10% và lãi vay trong thời gian xây dựng.

Thời gian xây dựng

Xét căn cứ vào nguồn lực hiện có của công ty, phương án giải ngân của ngân hàng và vị trí khu đất để đề ra tiến độ thi công Dự án Đầu tư Xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy là 6 tháng kể từ ngày khởi công.

Sản phẩm dự án

Bột giấy sử dụng để sản xuất ra các loại giấy in, giấy viết, giấy in báo,…

Phân tích tài chính dự án

Tổng mức đầu tư

Căn cứ vào các văn bản pháp lý sau để thành lập tổng mức đầu tư:

  • Thông tư số 06/2016/TT-BXD của Bộ Xây dựng: Hướng dẫn xác định và quản lý chi phí đầu tư xây dựng
  • Thông tư 09/2016/TT-BTC quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn nhà nước
  • Thông tư số 209/2016/TT-BTC của Bộ Tài chính: Quy định mức thu, chế độ thu, nộp, quản lý và sử dụng phí thẩm định dự án đầu tư xây dựng, phí thẩm định thiết kế cơ sở
  • Quyết định 33/2004/QĐ-BTC của Bộ Tài chính về việc ban hành Quy tắc, biểu phí bảo hiểm xây dựng, lắp đặt
  • Quyết định số 79/QĐ-BXD của Bộ Xây dựng: Công bố Định mức chi phí quản lý dự án và tư vấn đầu tư xây dựng

Cơ cấu ngồn vốn

Dựa vào đánh giá năng lực của công ty sau đó đưa ra kiến nghị việc lựa chọn nguồn vốn đầu tư gồm hai nguồn vốn: vốn chủ sở hữu, vốn vay.

Bảng 3: Cơ cấu nguồn vốn dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy

STT Hạng mục Tổng cộng
1 Vốn chủ sở hữu (40%)

4,595,558

2 Vốn vay ngân hàng
(lãi suất 13% năm)
6,893,336
  Cộng 11,488,894

 

Phương án vay vốn

Với tổng mức đầu tư  11,488,894,000 đồng

Trong đó: Chủ đầu tư bỏ vốn 40% tổng đầu tư tương ứng với số tiền 4.595,558,000 đồng. Ngoài ra công ty dự định vay của Ngân hàng 60% trên tổng vốn đầu tư, tức tổng số tiền cần vay là 6,893,336,000 đồng. Nguồn vốn vay này dự kiến vay trong thời gian 5 năm với lãi suất dự kiến theo mức lãi suất chung hiện nay là 13 %/năm. Phương thức vay vốn: nợ gốc được ân hạn trong thời gian xây dựng, chỉ trả lãi vay theo dư nợ đầu kỳ và vốn vay trong kỳ. Bắt đầu trả nợ từ khi dự án đi vào hoạt động . Trả nợ gốc đều hàng năm và lãi vay tính theo dư nợ đầu kỳ.

Các chỉ số Tài chính

Thông qua quá trình nghiên cứu và phân tích hiệu quả tài chính của dự án đầu tư xây dựng nhà máy sản xuất bột giấy đã đưa ra các thông số tài chính dưới đây:

Bảng 4: Các chỉ số Tài chính của dự án Đầu tư Xây dựng Nhà máy sản xuất bột giấy

TT Chỉ tiêu  
  Hệ số chiết khấu 15%
1 Tổng mức đầu tư (1.000 đồng) 11.822.683
2 Giá trị hiện tại thực NPV (1.000 đồng) 5.873.235
3 Tỷ suất hòan vốn nội bộ IRR (%) 28%
4 Thời gian hoàn vốn (năm) 6
  Đánh giá Hiệu quả

 

Dựa vào lãi vay và chi phí sử dụng vốn chủ sở hữu tính được hệ số chiết khấu mong muốn 15%/năm.

Dòng tiền thu vào bao gồm: tổng doanh thu hằng năm; nguồn thu từ vốn vay ngân hàng; giá trị tài sản đã khấu hao hết trong vòng 11 năm (không tính giá trị thanh lý cuối vòng đời dự án)

Dòng tiền chi ra gồm: các khoản chi đầu tư ban đầu mua sắm MMTB và chi phí hoạt động hằng năm (không bao gồm chi phí khấu hao), chi trả nợ vay ngân hàng gồm cả lãi vay và vốn gốc, tiền thuế nộp cho ngân sách Nhà Nước.

Dựa vào kết quả ngân lưu vào và ngân lưu ra, ta tính được các chỉ số tài chính, và kết quả cho thấy:

Hiện giá thu nhập thuần của dự án là NPV = 5.873.235,000 đồng. Như vậy chỉ trong vòng 11 năm của thời kỳ phân tích dự án, thu nhập đạt được sau khi trừ giá trị đầu tư qui về hiện giá thuần là: 5.873.235,000 đồng > 0 chứng tỏ dự án có hiệu quả cao.

Tỷ suất sinh lời nộ bộ của dự án IRR = 28% > 15% như vậy đây là chỉ số lý tưởng, chứng tỏ dự án có khả năng sinh lời.

Thời gian phân tích hiệu quả tài chính của dự án trong vòng đời 11 năm kể từ năm bắt đầu xây dựng và năm thanh lý.

Thời gian hoàn vốn tính  là 6 năm (bao gồm cả năm đầu tư MMTB)

Qua quá trình hoạch định, phân tích và tính toán các chỉ số tài chính trên cho thấy dự án mang lại lợi nhuận cao cho chủ đầu tư, suất sinh lời nội bộ cũng cao hơn sự kỳ vọng của nhà đầu tư, và khả năng thu hồi vốn nhanh hơn so với kế hoạch đề ra.

Kết luận

Không những mang lại giá trị về mặt kinh tế mà dự án còn có giá trị to lớn về mặt xã hội. Khi dự án đi vào hoạt động tiêu thụ một lượng lớn cây keo, cây lá tràm, tạo mối an tâm đầu ra cho việc trồng cây của người nông dân miền núi. Trong những năm qua nền kinh tế nông nghiệp gặp nhiều khó khăn do thời tiết, thiên tai, bão lũ làm cho đời sống người nông dân cơ cực. Mùa màng không có gì để thu hoạch, nhiều hộ nông dân không có đủ điều kiện để sinh sống. Từ khi có chủ trương của nhà nước về việc trồng cây ceo thì đời  sống của những người dân nơi đây đỡ cơ cực hơn. Tuy nhiên công sức của người nông dân chưa được trả thỏa đáng cho giá mua cây keo tươi. Do đó dự án ra đời là một bài giải cho những bài toán này. Bên cạnh đó dự án còn rất khả thi qua các thông số tài chính như NPV = 5,873,235 ngàn đồng ; Suất sinh lời nội bộ là: IRR  = 28 % ; thời gian hoà vốn sau 6 năm. Điều này cho thấy dự án mang lại lợi  nhuận cao cho nhà đầu tư,  niềm tin lớn khi khả năng thanh toán nợ vay cao và thu hồi vốn đầu tư nhanh. Thêm vào đó, dự án còn đóng góp rất lớn cho ngân sách Nhà Nước và giải quyết một lượng lớn lực lượng lao động có trình độ cao và lao động không có trình độ cho Tỉnh Quảng Nam.

Thông qua qúa trình phân tích về thị trường cũng như các thông số tài chính cho thấy đây là một dự án đáng giá đầu tư. Nếu các bạn quan tâm hoặc muốn tìm hiểu thêm thông tin dự án hãy gọi cho chúng tôi. Hotline: 0915 77 83 89

Close Menu
Close Panel